Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020, cùng với đó nhiều sản phẩm như dệt may, gia giày, nông sản,… sẽ được hưởng trực tiếp về thuế xuất khi xuất khẩu sang thị trường EU và đương nhiên sản phẩm lúa gạo là một trong số đó.

 

EVFTA cơ hội và thách thức

Cụ thể tại trường Châu Âu, sản phẩm lúa gạo sẽ được hưởng thuế xuất 0% đối với hạn ngạch là 80.000 tấn, đồng thời lộ trình giảm thuế đối với các mặt hàng chế biến từ lúa gạo về 0% theo thoả thuận là từ 3-5 năm tới. Mặt hàng đóng vai trò chủ đạo mà nước ta đem đến cho nước bạn không ai khác chính là “Hạt Ngọc Trời” – Gạo Tấm.

 

Trước khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực thì lúa gạo của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU bị đánh thuế tới 15%, chính điều đó làm cho tính cạnh tranh của gạo Việt Nam so với các đối thủ trong khu vực như Thái Lan, Myanmar và Campuchi bị hạn chế rất nhiều. Nhưng bây giờ thì lại là một câu chuyện khác, khi giảm thuế về 0% (trong hạn ngạch 80.000 tấn gạo) đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của mặt hàng Việt Nam tăng từ 10 – 15% so với các đối thủ khác trong khu vực.

 

Theo thống kê năm 2019, Việt Nam xuất khẩu hơn 6,5 triệu tấn gạo đến hơn 30 thị trường. Trong đó, Philippin vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất, chiếm tới 37%. Tiếp đến là các thị trường ở châu Phi, Nam Mỹ,… Tuy nhiên giá trị xuất khẩu sang EU năm 2019 lại khá hạn chế, chỉ ở mức 11 triệu USD tương ứng với sản lượng hơn 25.000 tấn. Với EVFTA thì con số sản lượng ít nhất mà chúng ta đang hướng đến thị trường Châu Âu là 80.000 tấn. Đây là một điều không tưởng đối với thời điểm 10 năm trước của nước ta và giờ đây điều đó đã gần như nằm trong tầm tay.

 

Đứng trước một cơ hội lớn như vậy, rõ ràng dư địa hiện tại của ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo Việt Nam đang ngày một rộng lớn hơn. Hiện tại, có hai doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa gạo niêm yết trên Sàn Chứng Khoán đó là Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TAR)Tập đoàn Lộc Trời (LTG). Đây là hai doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu gạo đa dạng với nhiều chủng loại sản phẩm.

 

Vậy hiệp định tự do thương mại EVFTA được ký kết sẽ giúp cho hai doanh nghiệp này hưởng lợi và tạo đột phá trong hoạt động kinh doanh thời gian tới như thế nào?

 

Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TAR)

Về Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TAR), doanh nghiệp đang canh tác trên diện tích hơn 19.700 ha với việc liên kết các hộ dân và một phần đất của chính công ty. Nhận xét về kết quả doanh từ năm 2016 đến năm 2018 luôn tăng trưởng tốt, nhưng “Biên Lợi Nhuận Gộp” lại có xu hướng giảm tương đối sâu qua 2 năm 2017 và 2018. Đến năm 2019 doanh thu của công ty sụt giảm nhẹ và chỉ đạt hơn 1.800 tỷ đồng, nhưng “Lợi Nhuận Gộp” lúc này tăng lên 158 tỷ so với 136 tỷ của năm 2018. Chính việc công ty đẩy mạnh tăng giá trị cũng như chất lượng gạo đã giúp cho “Biên Lợi Nhuận Gộp” của doanh nghiệp tăng trở lại, cùng với đó duy trì ở mức 8,5%/năm.

 

 

Quay về hiện tại, lũy kế 6 tháng đầu năm 2020 thì doanh thu của TAR tăng 93,3% so với cùng kỳ 2019, “Biên Lợi Nhuận Gộp” năm nay cũng được công ty duy trì ở mức trên 8%. Nếu không ảnh hưởng sâu bởi dịch bệnh ở quý 2 thì khả năng cao con số “Biên Lợi Nhuận Gộp” mà công ty đạt được sẽ duy trì ở trên mức 8,5%. Cũng theo đó, “Lợi Nhuận Gộp” lũy kế 2 quý đầu năm 2020 đạt 127 tỷ đồng, gấp 2,26 lần so với cùng kỳ 2019. Một con số đáng kinh ngạc đối một doanh nghiệp như “làm nông” như Trung An.

 

Nhìn chung các loại chi phí hoạt động và chi phí lãi vay luôn được công ty giữ ở mức an toàn và gần như không gây ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận sau cùng của công ty. Do đó tổng lợi nhuận sau thuế 2 quý đầu năm của TAR đạt 63 tỷ đồng, tăng gần 6 lần so với vùng kỳ 2019.

 

BCTC Hợp Nhất Quý II/2020 của TAR

Một điểm trừ cần phải đề cập tới chính là cơ cấu tài chính của TAR chưa thực sự được đánh giá cao khi tiền mặt vẫn giữ ở mức thấp, chiếm chưa đến 5% trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Trong khi đó, khoản phải thu khách hàng tăng khá mạnh đạt 364 tỷ đồng tại thời điểm cuối quý 2/2020. Rõ ràng hệ quả việc bị chiếm dụng vốn đã làm cho công ty phải tăng “Vay và nợ tài chính ngắn hạn” lên thành 824 tỷ đồng, dẫn tới làm cho chi phí lãi vay tăng lên đáng kể trong 2 quý đầu năm 2020.

 

“Hàng Tồn Kho” của TAR cũng tăng lên thành 633 tỷ, tương ứng với mức tăng 8,3% so với thời điểm đầu năm tài chính 2020. Việc tăng hàng tồn kho lên được coi là bước đi chiến lược đón đầu hội nhập thông qua EVFTA mà doanh nghiệp đã lường trước.

 

Gạo Việt Nam luôn được thế giới đánh giá cao.

Sản phẩm của Trung An được coi một lợi thế cực lớn mà doanh nghiệp này sở hữu. Giống gạo ST24, đây là loại gạo được đánh giá là ngon nhất thế giới tại cuộc thi Gạo ngon nhất thế giới năm 2019 – World’s Best Rice do The Rice Trader tổ chức. Với diện tích canh tác loại gạo ST24 lớn nhất Việt Nam, đồng thời song song với việc đó TAR đang định hướng bán lẻ gạo ở các siêu thị hay cửa hàng tại thị trường EU sẽ trực tiếp thúc đẩy “Biên Lợi Nhuận Gộp” của công ty trong tương lai tăng trưởng mạnh.

 

Tập đoàn Lộc Trời (LTG)

Lộc trời là tập đoàn hoạt động ở khá nhiều lĩnh vực gồm sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, nông nghiệp, bao bì,… nhưng mảng thuốc bảo vệ thực vật vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu của Tập đoàn qua các năm và đương nhiên, sau đó là đến mảng lúa gạo.

 

Diện tích đất canh tác hơn 35.000 ha lớn hơn rất nhiều so với diện tích đất canh tác của TAR. Chính điều này mang lại lợi thế không hề nhỏ trong việc chiếm lĩnh thị phần trong nước cũng như thị trường xuất khẩu. Ngày 22/09/2020, LTG chính thức công bố lô xuất khẩu 126 tấn gạo thơm sang EU theo hiệp định EVFTA. Hiện tại thì Tập đoàn Lộc Trời đang triển khai mục tiêu tiêu thụ 1 triệu tấn gạo thông qua việc xây dựng hệ thống Hợp Tác Xã vào năm 2024.

 

Về kết quả kinh doanh có thể là một điểm trừ xấu đối với Lộc Trời khi không có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm qua. Cụ thể, từ năm 2016 đến năm 2019 thì doanh thu tăng trưởng trồi sụt, có năm tăng và năm giảm đan xen nhau. Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của đang công ty thiếu tính ổn định. “Biên Lợi Nhuận Gộp” của LTG được duy trì ở mức 19-  20% vì vậy mà “Lơi Nhuận Gộp” không có nhiều biến động.

 

 

“Chi phí tài chính” chiếm tỷ trọng lớn trong “Chi phí lãi vay” đồng thời có xu hướng tăng dần qua các năm. Điểm sáng duy nhất có thể thấy là chi phí hoạt động đã được công ty tiết giảm khá mạnh giúp tỷ suất lợi nhuận vẫn giữ mức ổn định 3,8%.

 

Sang tới thời điểm hiện tại, lũy kế 2 quý đầu năm 2020 doanh thu sụt giảm mạnh chỉ còn 2.252 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ 2019 đạt 4.600 tỷ đồng. Tuy nhiên “Biên Lợi Nhuận Gộp” lại khá mạnh lên 25% cùng kì năm ngoài, chủ yếu đến từ mảng thuốc bảo vệ thực vật tăng lên thành 36%, trong khi cùng kỳ 2019 chỉ đạt gần 30%. Với mức tăng như vậy chỉ mang tính thời điểm và đương nhiên vẫn cần phải cân nhắc cho các quyết định quan trọng đối với cổ phiếu của doanh nghiệp.

 

BCTC Hợp Nhất Quý II/2020 của LTG

  

Lợi nhuận sau thuế lũy kế 2 quý đầu năm 2020 chỉ đạt 113 tỷ đồng giảm 54,8% so với cùng kỳ 2019. Kinh doanh ở nhiều lĩnh vực của LTG đôi khi lại là con dao 2 lưỡi, rõ ràng nếu so sánh với TAR (Trung An) thì khó có thể bằng lại được khi mà TAR chỉ tập trung thế mạnh vào canh tác và sản xuất lúa gạo.

 

Nếu xét về cơ cấu tài chính của LTG chúng ta lại thấy, Lộc Trời có phần tốt hơn so với Trung An. Trong cơ cấu “Tài sản ngắn hạn” của doanh nghiệp Lộc Trời, tiền mặt có xu hướng tăng mạnh tại thời điểm cuối quý 2/2020. Điều đặc biệt đó là khoản “Phải thu khách hàng” của LTG giảm mạnh từ 1.321 tỷ đồng xuống còn 796 tỷ đồng. Cũng như TAR thì LTG cũng tăng tích trữ hàng tồn kho để đón đầu hiệp định EVFTA được thông qua. Ngoài ra, một điểm tích cực đáng chú ý nằm ở khoản mục “Nợ ngắn hạn” của công ty vẫn duy trì ở mức 2.000 tỷ đồng cũng như không có vay tài chính dài hạn.

 

BCTC Hợp Nhất Quý II/2020 của LTG

Mới đây Tập đoàn Lộc Trời bắt tay với một đối tác là Louis Rice. Đây là “nước cờ” rất hay, tạo đà vững chắc cho quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm lúa gạo của LTG được đẩy mạnh tốt hơn.

 

Lời kết: Sau một vài đánh giá tổng quan về ngành nông nghiệp và doanh nghiệp trong ngành, rõ ràng ở đâu đó người ta vẫn nhìn thấy được những hạn chế mà các doanh nghiệp cần phải đối mặt và khắc phục để biến EVFTA thành cơ hội thực sự. Nhưng nếu đánh giá một cách tổng thể khách qua, chúng ta hoàn toàn có sơ sở để kì vọng về sự bùng nổ trong tương lai không xa của ngành nông nghiệp trên thị trường chứng khoán.

(Theo Đạt Nguyễn)

5/5 (1 Review)

One thought on “Câu Chuyện Về Gạo Việt Nam Sau Khi Hiệp Định EVFTA Đi Vào Thực Tiễn?

  1. Pingback: FDI là gì? Điểm nhấn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam 2020.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *